NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Văn học - Nghệ thuật

Văn nghệ dân gian Thăng Bình

Tác giả: Phùng Tấn Đông Ngày đăng: 15:30 | 26/05/15 Lượt xem: 17097

     A-VỀ ĐẤT VÀ NGƯỜI THĂNG BÌNH
“Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đõa , có sông Thu Bồn”
     Câu ca dao chan chứa niềm tự hào về sản vật, danh thắng, về “hình sông thế núi” của người dân Quảng Nam tự bao đời đã đề cập đến một sản vật nổi tiếng của quê hương Thăng Bình, đó là khoai Trà Đõa.Nhà bác học Lê Qúy Đôn trong sách “Phủ Biên tạp lục” từng khen tặng miền đất mới hết sức giàu đẹp  trong đó có đất Thăng Bình: “Xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu...Ở phủ Thăng Hoa, phủ Điện Bàn đồng ruộng rộng rãi, gạo lúa tốt...Có đường thạch khối, đường băng hoa, đường đen, đường mật”.Thăng Bình vốn là vùng đất tranh chấp liên miên trong diễn trình lịch sử Nam tiến của dân tộc, có khi được gọi là vùng “đất ki mi” (đất biên vực chưa ổn định chủ quyền)-vùng đất phía bờ nam sông Thu Bồn, tuy vậy vẫn là miền đất thu hút nhân tài , vật lực của các cư dân Đại Việt trong buổi đầu khai phá, buổi đầu “lập làng, dựng xã”.
     Ngược dòng lịch sử,năm 1306, khi lấy công chúa Huyền Trân- con vua nhà Trần của Đại Việt, vua Chiêm là Chế Mân đã dâng hai châu, châu Ô và châu Lý (Ri) cho Đại Việt làm sính lễ.Năm 1307, vua Trần Anh Tông đối tên châu Ô là Thuận Châu, châu Lý là Hóa Châu.Đây là mốc thời gian đánh dấu cuộc di dân đến vùng đất mới đầu tiên, chủ yếu vào đến bờ bắc sông Thu Bồn.
     Kể từ thời điểm ấy, Chiêm Thành luôn đưa binh đánh với Đại Việt.Năm 1400, sau khi lên ngôi Hồ Qúy Ly rồi Hồ Hán Thương phản công.Đường thiên lý dẫn đến phía bắc sông Thu Bồn được đắp, dọc đường lập làng xã, thị tứ và các trạm dịch.Quân Chiêm dâng đất Chiêm Động-miền đất “địa linh” của mình, nơi có kinh đô Trà Kiệu, Đồng Dương và thánh địa Mỹ Sơn-đất này sau gọi là Thăng Hoa (tức phần đất từ địa giới phía nam huyện Điện Bàn đến cuối tỉnh Quảng Nam ngày nay). Họ Hồ còn ép Chiêm Thành dâng luôn đất Cổ Lũy ( Tư Nghĩa ,sau này là Quảng Ngãi).
     Như sử cũ đã ghi thì “Quảng Nam là đất quận Nhật Nam đời Hán bị nước Lâm Ấp(Chiêm Thành) chiếm giữ, nhà Nhuận Hồ đánh lấy được động Chiêm, động Cổ Lũy, chia đặt thành bốn châu: Thăng ,Hoa, Tư, Nghĩa, đặt các chức Thăng Hoa an phủ sứ lộ để cai trị, lại di dân đến ở”(1).Châu Thăng lại được chia làm ba huyện: Lệ Giang, Đỗ Hà và An Bị.Năm 1405 triều đình phái Nguyễn Ngạn Quang làm Tuyên phủ sứ kiêm Chế trí sứ trấn Tân Ninh và lộ Thăng Hoa.
     Thăng Hoa và phần đất phía nam Hóa Châu (nay là Điện Bàn) trải qua nhiều cuộc tranh chấp giữa Đại Việt và Chiêm Thành bởi khi quân Minh sang đánh, người Chiêm Thành dựa vào quân Minh phản công lấy lại Thăng Hoa (1407), đánh Hóa Châu và cuộc giằng co giữa quân Việt, quân Chiêm “khi tiến khi lui suốt thời Hậu Trần”.Tiếp đến “cùng với cuộc kháng chiến của Lê Lợi, Hóa Châu (trong đó có Điện Bàn) lập nhiều công lớn và năm 1441, nhân Chiêm Thành ra đánh quân triều đình chưa tới, tự Hóa Châu xuất binh đánh bại Chiêm Thành, vua khen không hết lời.Tuy vậy, đất Điện Bàn và Thăng Hoa chưa hết xung đột với Chiêm Thành, nhất là Thăng Hoa, coi như vùng xôi đậu”(2), đất “ky mi” (vùng biên cương chưa phải thuộc địa).
     Năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang đại quân thân chinh đánh chiếm lại bốn châu và chiếm thêm Vijaya (Bình Định ngày nay).Tháng 6-1471 vua nhà Lê lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam, là đạo thứ 13 của Đại Việt, gồm vùng đất từ nam sông Thu Bồn đến Đèo Cả, chia làm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn.Mỗi phủ chia làm ba huyện.Phủ Thăng Hoa có ba huyện: Lệ Giang, Hà Đông, Hy Giang.Thăng Bình lúc ấy thuộc huyện Lệ Giang. Đây là cuộc di dân lớn nhất mà lưu dân là những người Thanh Nghệ theo bước Nam tiến của vua Lê đến định cư trên miền đất mới vì “để kinh dinh đất chiến lược, các triều đại đã cho nông dân tự miền Bắc vào để cùng với kiều dân cũ đã vào đất ấy kiếm ăn từ trước mà khai khẩn ruộng đất”(3)
     Năm 1490-đời Hồng Đức thứ 21, đạo Thừa tuyên Quảng Nam đổi thành xứ Quảng Nam.Năm 1520, đời Lê Trung Dực đổi thành Trấn Quảng Nam.Năm 1604 chúa Nguyễn Hoàng đổi thành Dinh Quảng Nam.Huyện Lệ Giang đổi thành huyện Lễ Dương.Huyện Hy Giang thành Duy Xuyên.Năm 1606, huyện Lễ Dương đổi thành Phủ Thăng Hoa,  Điện Bàn tách khỏi Triệu Phong, Thuận Hóa đổi thành Phủ Điện Bàn.Người  dân phủ nào lấy tên theo phủ ấy và gộp lại thì gọi là: người Thăng Điện-người Quảng Nam.Đây là đợt di dân lớn thứ hai vào vùng Thăng Điện trước khi diễn ra cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài trên 150 năm (kể từ cuộc chiến tranh lần thứ nhất giữa nhà Trịnh với nhà Nguyễn năm1627 đến khi Tây Sơn ra Bắc chiếm Thăng Long  năm 1786). Năm 1841 dưới thời Thiệu Trị (Thiệu Trị nguyên niên) nhà Nguyễn, Phủ Thăng Hoa có tên Phủ Thăng Bình. Từ đầu thế kỷ XX, Phủ Thăng Bình được chia làm 7 tổng với 170 xã.Năm 1906, triều Nguyễn cải huyện Hà Đông thành Phủ Hà Đông, sau đổi thành Phủ Tam Kỳ kiêm lý cả huyện Hà Đông, không thuộc Phủ Thăng Bình  nữa .Năm 1922, một số xã phía tây nam Phủ Thăng được tách ra nhập với một số xã của phía tây Tam Kỳ (Hà Đông) thành lập huyện mới là Tiên Phước.Năm 1939 bốn xã: Đông An, Trung Ái, Hóa Quế, Cẩm Tú thuộc tổng Đông An sáp nhập vào xã Quế Sơn. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, năm xã phía đông bắc Thăng Bình nhập vào Duy Xuyên và Phủ Thăng Bình được đổi thành huyện Thăng Bình.
     Như vậy vùng đất Thăng Bình là đất thuộc “Ô châu ác địa”, vùng đất “phên dậu” của đất nước, vùng đất của những câu ca về một “xứ sở lạ lùng” như “dậm chưn xuống đất kêu trời-chồng tôi vô Quảng, biết hồi nào ra?”, hay tâm thế phó mặc của lưu dân: “ ra đi là sự đã liều-mưa mai chẳng biết, nắng chiều không hay”.
     Địa hình huyện Thăng Bình thấp dần từ tây sang đông, bao gồm nhiều dạng địa hình của vùng đất Quảng Nam.Có thể thấy vùng đất phía tây(tính từ phía tây đường sắt Thống Nhất-  gồm các xã Bình Lãnh, Bình Trị, Bình Định, Bình Phú, Bình Quế...) là vùng đồi núi và bán sơn địa, vùng này chiếm khoảng 2/5 diện tích toàn huyện, đất đai bạc màu hoặc bị laterit hóa.Vùng này có hệ thống núi chạy dọc theo ranh giới phía đông nam của huyện với các ngọn núi như La Nga, Chóp Chài, Đồng Linh, Phước Cang..., có hướng chủ yếu là tây đông, độ cao trung bình khoảng 500 m.Ngoài phần núi, đa phần diện tích còn lại của khu vực này là đồi gò thấp (cao trung bình 200m) chỉ có các loại cây như rang, sim, mua...mọc hoang, ít có các cây lớn vì thế đất dễ bị rữa trôi, bạc màu, laterit hóa.Xen giữa các hệ thống gò đồi là những cánh đồng chân núi, nhỏ hẹp cùng những làng xóm, đất thường bị chua phèn, mỗi năm chỉ làm được một vụ lúa nhờ nước trời.Những năm gần đây nhờ các công trình thủy lợi nên nâng lên 2 vụ nhưng năng suất vẫn còn thấp do đất đai kém màu mỡ.
     Phía cực đông của huyện-nằm hai bên bờ sông Trường Giang là vùng ven biển.Vùng đông có bờ biển dài 25km, thấp phẳng, phần lớn là cát trắng, nhiều cồn cát, nhiều bãi tắm đẹp (trong đó có bãi tắm Bình Minh).Vùng này mặc dù là dải đất nằm kẹp giữa một bên là sông, một bên là biển nhưng nhờ những bàu, hồ, sông nên người dân định cư lâu đời, tạo nên những làng mạc đông đúc-những làng chài kết hợp với trồng màu, nuôi trồng thủy sản, buôn bán.
     Đồng bằng Thăng Bình vốn là phần giữa của đồng bằng Quảng Nam vốn trước đây “là vụng biển cũ (trong thực tế là một đới địa máng cũ) cắm sâu vào giữa hai khối núi Hải Vân và Ngọc Linh như một cái nêm lớn.Sau khi nước biển rút, do vận động nâng lên của Trường Sơn Nam, sông Thu Bồn và các nhánh của nó đã bồi nên một vùng đất rộng 540 km2, diện tích này bao gồm cả vùng cửa sông Hội An, nằm dịch về phía biển.Đồng bằng này thu hẹp lại ở huyện Thăng Bình rồi mở rộng ra-tuy vẫn giữ dạng một dải đất phù sa chạy dọc sông Tam Kỳ-ở đồng bằng cũng mang tên ấy rộng 510 km2(4).Dọc duyên hải, phía bờ nam sông Thu Bồn là những cồn, bãi cát trắng, phía bên trong là những cồn bàu dài và hẹp-di tích của những vụng biển cũ.Rìa phía sau những cồn cát từ Cửa Đại đi về phía nam,những đầm hồ “được cải tạo và nối lại thành con đường giao thông thủy nội địa mang tên sông Trường Giang”.Sông Trường Giang là thủy lộ nối vùng cực nam tỉnh Quảng Nam (vụng An Hòa) với Đà Nẵng- nối sông Bàn Thạch (Tam Kỳ) với sông Thu Bồn, sông Vĩnh Điện.Sông Trường Giang cũng nối vùng đông với vùng tây Thăng Bình qua sông Kế Xuyên.Sông Trường Giang cũng là ranh giới khá mong manh giữa vùng đất phù sa và đất xám với vùng đất cát ven biển.Nếu lấy quốc lộ 1A làm tâm điểm thì đồng bằng Thăng Bình trải ra hai bên quốc lộ, là vùng đất phù sa tương đối màu mỡ, nhất là khu vực phía nam của huyện (các xã Bình Nguyên, Bình Tú, Bình Trung, Bình An...).Sông Ly Ly (còn gọi là sông Rù Rì) phát nguyên từ núi Chom (nằm giữa hai huyện Quế Sơn và Hiệp Đức) dài  khoảng 40 km, một phần nửa chiều dài chảy trên địa bàn của huyện Thăng Bình, nhưng sông đổi dòng liên tục do ảnh hưởng của các trận  lũ lớn , mùa khô thường rất ít nước nhưng mùa mưa lại có những trận lũ quét vì sự tàn phá của rừng đầu nguồn.
     Thăng Bình có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam chạy ngang qua huyện, đường 106- Quốc lộ 14E-đường liên xã, liên huyện nối thị trấn Hà Lam với các xã phía tây, nối Thăng Bình với các huyện Hiệp Đức, Quế Sơn, Tiên Phước, Phước Sơn... và các tỉnh (Đường Hồ Chí Minh).
     Như vậy, dưới góc nhìn địa-văn hóa, đất Thăng Bình có chiều dài bờ biển khá dài, có thể nói là dài nhất so với các huyện trong tỉnh.Văn hóa dân gian Thăng Bình vì thế “đậm” chất biển, nhất là vùng Đông, nơi tập trung những cư dân trồng rau màu bên đôi bờ sông Trường Giang, đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản trên sông, biển.Văn hóa dân gian nơi đây có câu nói đầu miệng về cuộc sống gắn với khoai sắn, cá tôm: “sáng ăn khoai đi ngủ, tối ăn củ đi làm”, “trăng rằm đã tỏ lại tròn-khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”, “ai về chợ Được sông dài-tôm nò thổ sản chươm gai cũng nghề”, “nhà tôi nghề giã, nghề sông-lặng thì tôm cá đầy trong, đầy ngoài-cá trắng cho chí cá khoai-còn như cá lẹp, cá mai cũng nhiều”...
     Thế nhưng Thăng Bình có cả vùng đất bán sơn địa-vùng Tây, rất gần ngã nguồn, rất gắn với nghề rừng, nghề khai thác, chế biến, buôn bán sản vật từ rừng và có cả vùng đồng bằng với những cánh đồng lúa rộng lớn, cư dân thuần nông.Có thể nói khái quát, văn hóa Thăng Bình là “gần rừng, gần đồng bằng, đậm biển khơi”.
     Như đã trình bày phần trước ,ngay vào thời nhà Hồ (1400-1407) và gần nửa thế kỷ sau đó, vùng đất này từng diễn ra các cuộc tranh chấp Việt-Chiêm liên miên.Vùng đất này được coi là vùng “xôi đậu”, là đất “ky mi”-vùng đất biên vực, chưa thực sự là thuộc địa của Đại Việt.Đây vừa là đất “phên giậu” của đất nước vừa là “bàn đạp” để mở rộng cuộc Nam tiến của dân tộc ta.Dưới góc nhìn địa- nhân văn, chính đặc điểm vùng đất là môi trường góp phần quan trọng hình thành nên tính cách con người, con người xứ Quảng nói chung, con người vùng đất Thăng Hoa nói riêng.
     Những lưu dân Việt từ đồng bằng sông Mã, sông Lam hay sông Hồng đi vào Nam tuyệt đại đa số là nông dân (trừ một số ít thợ thủ công, buôn bán, binh lính...) buộc phải thích nghi với việc vừa khai phá, sản xuất lương thực vừa chiến đấu bảo vệ cương vực đất nước như “Chiếu bình Chiêm” của vua Lê đã nêu  và gọi họ là những người “tòng binh lập nghiệp”.Đó là “những người từng xông pha trận mạc, trí dũng đều có, dám nghĩ dám làm, nhất là hàng tướng lĩnh”(5)
     Ngoài việc khai thác vùng đồng bằng phù sa nằm giữa dải cồn bãi ven biển và vùng đồi gò phía tây, thích ứng với nghề trồng lúa nước, trồng rau màu của người Chiêm, cư dân Việt ở Thăng Hoa chắc chắn đã học được cách khai thác, chế biến lâm thổ sản quý, nghề nuôi tằm , ươm tơ, chế biến đường từ mía, chế biến cá mắm từ cá biển,  cách đóng ghe bầu...vốn là “sở trường” của người Chiêm trên vùng đất mới.
     Năm 1558, Nguyễn Hoàng được vua Lê cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa, nguyên là đất địa đầu của Champa (Chiêm Thành) được Chế Mân cắt dâng làm sính lễ cho nhà Trần từ 1306.Năm 1570 Nguyễn Hoàng được vua Lê Anh Tông cho kiêm lĩnh cả trấn Quảng Nam (Tổng Trấn Quảng Nam là Bùi Tá Hán là vị tướng, vị quan có tài, mất năm 1568.Nguyễn Bá Quýnh được cử lên thay.Khi Nguyễn Hoàng được cử kiêm lĩnh Quảng Nam thì Nguyễn Bá Quýnh được điều về làm tổng trấn Nghệ An).Nguyễn Hoàng đã ra sức dẹp yên các cuộc nổi loạn của thổ hào, kiến thiết, xây dựng hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam phồn thịnh như Lê Qúy Đôn đã viết “Cai trị hơn mười năm chính sự khoan hòa, việc gì cũng làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ bản hộ, cấm đoán kẻ hung dữ.Quân dân hai xứ thương yêu, tín phục, cảm nhận, mến đức, dời đổi phong tục.Chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng.Thuyền buôn ngoại quốc đến mua bán , đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang.Ai cũng cố gắng, trong cõi an cư lạc nghiệp”(6).
     Vùng đất Thăng Bình cũng như Quảng Nam mặc dù trải qua cuộc chiến giữa  nhà Lê, nhà Mạc, rồi hai thế lực Trịnh-Nguyễn ( Đàng Ngoài-Đàng Trong) từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII chịu không ít lần tàn phá bởi chiến tranh thế nhưng vùng đất Thăng Bình vẫn là đất tụ cư của lưu dân đến từ phía bắc .Và khi Nguyễn Hoàng lập dinh trấn Thanh Chiêm (1602) thì cùng với Điện Bàn, vùng đất này vừa là căn cứ địa vững chắc để đối đầu với họ Trịnh ở phía bắc, vừa là bàn đạp cho công cuộc mở rộng hậu phương về phía nam.Vùng cảng thị phía bắc huyện là Hội An cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII-nơi hội tụ của nhiều thuyền buôn và kiều dân ngoại quốc, trong đó có Nhật Bản, Trung Hoa..đã có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế-văn hóa của người Thăng Bình.Nhân tài ,vật lực của vùng đất Quảng Nam-vùng Thăng Điện được các sử gia ghi nhận: “Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất thiên hạ... ruộng đồng rộng rãi, gạo lúa tốt đẹp”(7).Cư dân Việt vùng đông Thăng Bình ngoài nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, trồng khoai, trồng màu, thời kỳ này có thêm nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa khắp các nơi với nhiều chợ dọc sông Trường Giang, sông Kế Xuyên như Chợ Trung Phường,Chợ Bà, Chợ Được, Tiên Đỏa, Kế Xuyên...Cư dân vùng tây phát triển các nghề thủ công như gốm , mộc, nề, đá ong, đá chẻ..., các nghề chế biến, khai thác lâm thổ sản, trao đổi hàng hóa với các huyện trong tỉnh qua các chợ như Hà Lam,  Vinh Huy, Việt An...
     Ở thế kỷ XVII , XVIII  địa bàn Thăng Bình đã giữ một vai trò quan trọng trong việc mở đất về phía nam và định hình lãnh thổ bởi Quảng Nam ngoài hình thế núi sông hiểm yếu, lại nằm chính giữa trục Quan lộ Nam –Bắc mà còn vì-kể từ phủ Điện Bàn đến Phú Yên- là cái kho nhân tài , vật lực hết sức hùng hậu.Quảng Nam trong đó có Thăng Bình là “bàn đạp” trong công cuộc mở nước, trong đó có việc chuẩn bị một lực lượng cư dân tiếp tục hành trình về phương nam khai thác vùng Đồng Nai, Gia Định sau này.
     Người Thăng Bình kế tục truyền thống kiên cường, mưu trí, khả năng tương thích với hoàn cảnh khắc nghiệt của cha ông thời “mở đất”, “giữ đất” suốt trường kỳ lịch sử, vì thế đời tiếp đời, Thăng Bình là một trong những vùng văn vật của tỉnh Quảng Nam.
     Đất Thăng Bình, theo tài liệu lịch sử cho biết vốn từng là kinh đô của người Chăm vì “năm 875 khi người Chăm chuyển đô từ Virapura-vùng đất nam Champa ra vùng đất phía bắc, họ đã định đô tại đây với tên kinh đô mới là Inđrapura.Cho đến nay chưa có sự giải thích được tại sao khi chuyển đô về vùng đất cũ người Chăm không sử dụng lại địa điểm kinh đô xưa Simhapura (Trà Kiệu) mà lại chọn địa điểm này”(8). Tổng hợp các tư liệu cho ta thấy “trước tiên kiến trúc Đồng Dương thờ ba vị thần Bà la môn và các sakti của họ với quần thể kiến trúc bộ ba (hay bộ sáu).Đến thời điểm 875 sửa chữa lại thành tu viện Phật giáo, chuyển thành kiến trúc một tháp đồng thời vẫn bảo tồn một số đền thờ cũ cũng như tượng thờ cũ, hình thành cái mà G.Coedès gọi là thờ Siva-Bút đa (Civa-Buddha)”(9). Đồng Dương đóng vai trò quan trọng trong văn hóa Chăm vì “chính ở đây vào thế kỷ IX ta thấy sự gặp gỡ những yếu tố văn hóa vùng Panduranga, nơi tộc Cau cư trú với những yếu tố văn hóa vùng Amaravati, nơi tộc Dừa cư trú.Chắc chắn hai tộc đã thông qua hình thức hôn nhân để thống nhất.Ta còn lại tư liệu về vua Cri Harivarman IV có mẹ thị tộc Cau, cha thị tộc Dừa là một trong những bằng chứng.Đồng Dương là nơi kết hợp Phật giáo với Bà la môn giáo thể hiện trong hình thức kiến trúc rõ rệt nhất và là nơi có niên đại 875 được các nhà nghiên cứu nhất trí thừa nhận”(10).Ngoài di tích Đồng Dương được xây dựng quy mô dài gần 2 km đã bị thời gian và chiến tranh hủy hoại nặng nề, Thăng Bình còn có mộ người Chăm ở Trà Sơn (Bình Trung), Hưng Mỹ (Bình Triều),Giếng Tiên (Bình Đào), có Bờ đập Hời ở Lạc Câu (Bình Dương)...
     Người Thăng Bình ở vùng đất mới đã linh hoạt trong việc dung hợp hai yếu tố văn hóa Việt - Chăm để hình thành nên một dấu ấn văn hóa đặc thù trong đó “có sự hỗn dung hình tượng người mẹ của quê hương cho phù hợp với những đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc.Và rõ nhất, sự kết hợp giữa hình tượng nữ thần Pô Inư Nagar (Nữ thần Mẹ xứ sở) của người Chăm với Bà Chợ Được của người Việt, đã tạo nên một giá trị văn hóa chung cho hai tộc người”(11).Sự gặp gỡ giữa nữ thần Pô Inư Nagar và Bà Chợ Được còn rõ nét qua những sự tích lưu truyền trong dân gian như Bà Pô Inư  Nagar được “sinh từ mây trời và từ bọt biển”, Bà Chợ Được “sinh tại nơi khuê các nhưng lại có bụi mù mịt, mây trắng bềnh bồng, dáng người khỏe mạnh, trắng như tuyết, bước đi khác thường, tiếng nói sang sảng...”(12). Hình tượng của hai bà đã đi vào đời sống tinh thần của nhân dân và được bảo lưu, phát huy các giá trị văn hóa qua lễ hội Bà Chợ Được vào mùa xuân hàng năm.
     Về phương diện văn hóa vật chất, cư dân người Việt học được từ người Chăm một số kỹ thuật sản xuất như việc chế tác những chiếc cày khỏe, chắc chắn cho phép chỉnh góc và cày sâu, kỹ thuật lấy “nước muội” ở các cánh đồng chân núi để tưới ruộng, kỹ thuật đóng ghe bầu để chuyên chở hàng hóa đi xa....Trong nghệ thuật ẩm thực thì việc làm mắm là một tuyệt kỹ của người Chăm mà  “một trong những đặc điểm của món mắm là nó thích hợp với mọi đối tượng trong xã hội, từ người nghèo khổ đến bậc vương giả”(13)
     Năm 1886 Văn Miếu Hà Lam (dân gian thường gọi là Văn Thánh) được xây dựng. Văn miếu thờ Khổng Tử và các học trò. Ngoài ý nghĩa tôn vinh đạo Tam cương theo học thuyết Khổng Tử được nhà nước phong kiến duy trì, Văn miếu đồng thời đề cao sự học, nêu cao gương hiếu học của người xưa. Văn miếu là di tích văn hóa - lịch sử đặc sắc của huyện (đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp) hiện còn 9 tấm bia, 7 tấm khắc tên các vị khoa bảng, một tấm khắc tên các bậc công thần của Triều đình và một tấm bia khắc tên các quả phụ tiết nghĩa.Văn bia là một minh chứng sinh động về một Thăng Bình - đất khoa bảng của Quảng Nam.
     Trong lĩnh vực giáo dục, thời xưa theo thông lệ, ở tỉnh có trường đốc, phủ có trường giáo, huyện có trường huấn cùng các lớp học dân lập trong các thôn xóm.Trường giáo phủ Thăng lúc đầu đặt ở Trà Kiệu, sau chuyển vào Hà Lam (1848). Suốt 13 triều vua, trải qua 123 năm, tính từ triều vua Gia Long thứ mười hai (Gia Long thập nhị niên), Qúy Dậu 1813, cho đến khi chấm dứt việc thi cử khoa bảng dưới triều Nguyễn- Bảo Đại thập nhị niên, Bính Tí 1936, văn bia Văn Miếu Hà Lam ghi nhận có164 vị khoa bảng trong đó có 1 tiến sĩ, 3 phó bảng, 31 cử nhân (hương cống), 129 tú tài (sinh đồ).
     Bia chí khắc tên các bà tiết nghĩa của phủ Thăng Bình khắc tên 7 tiết phụ được các triều vua Tự Đức, Khải Định, Bảo Đại phong tặng các danh hiệu “Tiết phụ khả phong”, “Tiết hạnh khả phong”, “Tiết hạnh danh văn”, đặc biệt có người được phong danh hiệu “Lạc quyên nghĩa phụ”, “Hảo nghĩa khả gia” (Ngoài tiết hạnh còn có công lạc quyên, phát chẩn cho dân khi đói kém, đóng góp cho việc xây trường học, tu bổ đền miếu...) như các bà Trương Thị Phẩm, Nguyễn Thị Phẫn, Nguyễn Thị Hoàng.
     Theo “Quốc triều Hương khoa lục”(14) của Cao Xuân Dục, có thể biết được cụ thể các nhà khoa bảng của tỉnh và các huyện.Trong số 1250 người đỗ cử nhân của trường Thừa Thiên có 36 người của huyện Thăng Bình.Sau khi đỗ cử nhân trường Hương, các sĩ tử tiếp tục thi Hội tổ chức ở kinh thành Huế.Đất Thăng Bình có 4 người đỗ từ phó bảng trở lên.Tiến sĩ Nguyễn Bá Tuệ (Tổng An Thái trung, xã Tuần Dưỡng, nay là xã Bình An) đỗ khoa Tân Sửu năm 1841.Các Phó bảng Võ Đăng Xuân (Tổng An Thái trung, xã Phố Thị,nay là xã Bình Tú) đỗ khoa Kỷ Dậu 1849, Phó bảng Nguyễn Thuật (Nguyễn Công Nghệ-Tổng Phú Mỹ trung, xã Hà Lam, nay là thị trấn Hà Lam) đỗ khoa Mậu Thìn 1868, Phó bảng Võ Vỹ (Tổng An Thịnh hạ, phường An Phú, nay là xã Bình Giang) đỗ khoa Tân Sửu 1901.
     Bia ký (bia số 1) từng vinh danh học trò Doãn Văn Đỗ, người xã Quảng Phú, tổng Hưng Thịnh hạ, anh của Văn Xuân (Doãn Văn Xuân), là sinh đồ đầu tiên của huyện (khoa Qúy Dậu Gia Long năm thứ 12).Doãn Văn Xuân là Hương cống đầu tiên của huyện đến tỉnh Định Tường làm quan Án sát sứ, là người được tặng Lễ bộ Thị lang ...
     Kế thừa truyền thống kiên cường ,mưu lược trong công cuộc nam tiến của cha ông, đồng thời cũng là truyền thống yêu nước không ngại hy sinh vì nước của dân tộc, người Thăng Bình đã tham gia chiến đấu chống giặc hết sức kiêu dũng, anh hùng.Trong giai đoạn thực dân Pháp xâm lược, người Thăng Bình luôn đứng ở tuyến đầu đánh giặc.Trong phong trào Nghĩa Hội-Cần Vương (1885-1887) nhân dân Thăng Bình đã đứng trong đội ngũ kháng Pháp dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu cùng quê Thăng Bình, các lãnh tụ cùng tỉnh Quảng Nam.
     Khi kinh thành Huế thất thủ (5-7-1885), Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở, Quảng Trị và ban chiếu Cần Vương.Tại Quảng Nam, Nghĩa hội được thành lập (9/1885) do Tiến sĩ Trần Văn Dư, Chánh sứ sơn phòng Quảng Nam làm Hội chủ, Phó bảng Nguyễn Duy Hiệu làm Hội phó.Trần Văn Dư kêu gọi “Các sĩ phu, thứ dân toàn hạt, không kể quan quân, xuất quỹ nuôi quân, lập trường luyện võ, nhất nhất mưu đồ khởi nghĩa để đánh đuổi quân thù, giành lại quyền lợi cho thứ dân, tôn phò xã tắc lâu dài”(15). Nghĩa Hội được những nhân sĩ yêu nước Thăng Bình hưởng ứng  tích cực phong trào.Nổi bật nhất là cao điểm phòng thủ La Nga-Cao Ngạn-Phú Lâm (tức vùng núi Ngang giáp giữa hai xã Tiên Sơn huyện Tiên Phước và xã Bình Lãnh huyện Thăng Bình hiện nay)án ngữ phía tây –bắc để bảo vệ khu căn cứ phía tây huyện Hà Đông của Nghĩa Hội do Tán tương Nguyễn Hàm (Tiểu La Nguyễn Thành) cùng Hồ Đức Học xây dựng.Nghĩa Hội do Trần Văn Dư chỉ huy đã tái chiếm sơn phòng Dương Yên, cùng lúc các cánh quân của Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thành, Nguyễn Hanh, Ông Ích Thiện...từ nhiều hướng tiến quân về tỉnh thành La Qua, vây chiếm tỉnh thành. “Nghĩa Hội Quảng Nam là bộ phận duy nhất của phong trào Cần Vương cả nước làm cho bộ máy Nam triều tan rã hoặc bị cô lập trong đồn bót, huyện lị”(16).Nguyễn Thành (1863-1911) là một yếu nhân của phong trào Cần Vương, ông là người văn võ kiêm toàn, một tướng tài của Nghĩa Hội Nam- Ngãi, người khiến cho tên tay sai Nguyễn Thân phải khen ngợi “Nghĩa Hội Nam Ngãi chỉ Nguyễn Thành là biết dùng binh”. Phan Bội Châu-trong thư gởi Phan Châu Trinh-có viết “Trước đây tôi có đi qua quý tỉnh, những người tôi đã được cùng nói chuyện đều là người tốt nhưng về tài năng thì không ai bằng Nguyễn Thành” (17).Nguyễn Thành chỉ huy nghĩa quân đánh thắng nhiều trận nổi tiếng như Vu Gia, Thu Bồn, cửa ngõ Đà Nẵng...Ông từng kéo quân vào Bình Định hợp sức với Mai Xuân Thưởng, nhằm liên kết mở rộng phong trào Nghĩa Hội.
     Sau khi phong trào Nghĩa Hội tan rã bởi lần lượt Trần Văn Dư bị triều đình Huế và Pháp sát hại (13-12-1885), Nghĩa Hội do Hội chủ Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo với nhiều chiến thắng cho đến năm 1887 thì bị hãm vô thế cùng, nhất là sau tổn thất trận An Lâm (nay thuộc xã Tiên Hà, huyện Tiên Phước), các thủ lĩnh phải giải giáp lực lượng nhằm bảo toàn lực lượng để mưu đồ về sau. Đến năm 1904 Nguyễn Thành cùng với Phan Bội Châu sáng lập Duy Tân Hội, dấy lên phong trào Đông Du.
     Nguyễn Thành đã lấy Nam Thịnh sơn trang của mình ở Thăng Bình để thành lập tổ chức cách mạng mới.Cuộc họp có hơn 20 chí sĩ từ cả nước tụ hội như Cường Để, Phan Bội Châu,Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển, Thái Phiên, Tăng Bạt Hổ, Châu Thượng Văn... Cường Để được suy tôn làm Hội chủ.
     Khi Phan Bội Châu cùng Tăng Bạt Hổ, Đặng Tử Kính sang Nhật để cầu viện nhưng bất thành, Nguyễn Thành cùng Châu Thượng Văn lãnh đạo phong trào trong nước bằng việc liên kết trên 70 cơ sở thương hội, vận động tài chính cho tổ chức.Đến giữa năm 1906 số du học sinh sang Nhật lên đến 200 thì thực dân Pháp câu kết với chính phủ Nhật trục xuất du học sinh và Phan Bội Châu ra khỏi Nhật.
     Trong phong trào xin sưu chống thuế của nhân dân tỉnh Quảng Nam năm 1908 do là chỗ thân tín, đồng chí hướng với Phan Bội Châu và các lãnh tụ Duy Tân như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúy Cáp... , Nguyễn Thành bị thực dân Pháp và triều đình tay sai kết án 9 năm tù, dày đi Côn Đảo.Nguyễn Thành do lao nhọc vì dân vì nước và chế độ lao tù nên lâm trọng bệnh, qua đời tại Côn Đảo vào năm 1911.
     Tham gia phong trào Nghĩa Hội còn có cụ Nguyễn Uýnh (hay Nguyễn Quýnh, Nguyễn Duật), người Hà Lam.Nguyễn Uýnh đỗ cử nhân văn khoa và võ khoa, làm lãnh binh thời Tự Đức. Hưởng ứng phong trào Cần Vương, ông lĩnh chức Tán tương quân vụ trong Nghĩa Hội Quảng Nam, lập được nhiều chiến công. Ông bị địch phục kích trên đường rút quân về Quảng Nam và hy sinh tại Cầu Cháy (Bình Sơn) Quảng Ngãi ngày mùng 5 tháng 7 năm Bính Tuất (1886).
     Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thành, Nguyễn Uýnh, nhân dân các xã ở địa phương đã lập các Nghĩa quân đoàn, có xã đoàn phụ trách, người dân không phân giàu nghèo đều góp tiền ủng hộ nghĩa quân, đặc biệt các nhà hào phú góp nhiều nhất. Điển hình như bà Nguyễn Thị Hướng, con gái tri phủ Nguyễn Đức Hiền (Hòa Vang) về làm dâu một gia đình ở Hà Lam, do chồng bà làm Chủ sự sơn phòng Quảng Nam nên nhân dân thường gọi là bà Chủ. Bà Chủ ra sức ủng hộ nghĩa quân về lương thảo nên được nghĩa quân tặng bà danh hiệu “Nữ Tiêu Hà” (Tiêu Hà là quan lo việc lương thảo thời Đông Chu, giúp Hán Cao Tổ đánh bại Hạng Võ (Sở Vương)). Bà cũng tiếp tục giúp phong trào Đông Du (1904-1907).
     Đất Thăng Bình còn có những gia đình ‘dòng dõi phẩm hạnh nhân nghĩa” (Đại Nam liệt truyện) như gia đình cụ Nguyễn Đạo với các người con như Nguyễn Tạo, Nguyễn Thuật, Nguyễn Uýnh....Nguyễn Tạo làm quan đến chức sơn phòng sứ Quảng Nam, sau làm Giáo thụ Thăng Bình, rồi lại quyền Đốc học, khi chết được truy thụ Hàn Lâm viện thị giảng, được sử quan triều Nguyễn nhận định “ là người thanh liêm, giỏi giang, làm quan ở đâu đều có tiếng tốt”(17). Nguyễn Thuật (hiệu Hà Đình) là em trai Nguyễn Tạo, đỗ Phó bảng khoa Mậu Thìn (1868) làm quan trải qua nhiều chức từ Thị lang tại nội các đến Chánh sứ sang Trung Quốc, Tuyên úy xử trí đại thần đối với hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi rồi Tổng đốc Thanh Hóa, Thượng thư Bộ Lại, Hiệp biện đại học sĩ gia hàm Thái tử Thiếu bảo. Khi Nghĩa Hội Quảng Nam thất bại, nhiều người bị bắt, với chức Tuyên úy xử trí đại thần, ông đã tư Viện Cơ mật xin cho những người thuộc giáo chức, lại dịch, binh dân, người già yếu được chuộc tội bằng bạc và xin bỏ lệ phạt tiền đối với các tổng lý địa phương nơi có người tham gia Nghĩa Hội.Nhờ vậy, ông đã cứu không chỉ anh và hai em trai ông thoát vòng lao lý mà còn cứu đến 865 người khỏi bị giam cầm, tra khảo, được cho về quê làm ăn.Nguyễn Thuật cũng có công xin miễn thuế cho nhân dân các tỉnh Quảng Nam, Thanh Hóa trong năm đầu của triều Đồng Khánh(18)..
     Sau khi Duy Tân Hội ra đời, bộ ba Quảng Nam gồm Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Qúy Cáp cùng nhiều sĩ phu yêu nước đề xướng phong trào Duy tân với mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, thực hiện chấn hưng thực nghiệp, tự lực khai hóa,lập hội buôn, hội nông, hội học, mở hiệu buôn, lập doanh điền, phát triển thủ công nghiệp, cổ động dùng hàng nội hóa, xu hướng theo tân học, bỏ lối học từ chương, văn chương bát cổ (tám vế), mở trường dạy chữ quốc ngữ, vận động cắt tóc ngắn, vận Âu phục, vận động chống đồi phong hủ tục, phản đối sưu cao thuế nặng, chống chế độ quân trị, chống cường hào, vua quan thối nát, vận động cải lương hương chính, bỏ khăn đen áo dài...Phong trào lan rộng khắp nơi mà  Thăng Bình là một trong những “trường thực hành” ở Quảng Nam.
     Truyền thống yêu nước, vì dân vì nước, chiến đấu không mệt mỏi, luôn tìm cách giành bằng được độc lập cho dân tộc, tự do cho đất nước, cho  nhân dân  cho dẫu hy sinh sinh mệnh thể hiện qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ-đó là  tính cách đặc trưng của người Thăng Bình, người Quảng Nam bởi con người ấy luôn “hằn sâu trong tư duy một ý thức trách nhiệm chính trị hầu như là tự nhiên đối với vận mệnh chung của đất nước” như các tác giả sách ‘Tìm hiểu con người xứ Quảng”(19) đã nhận định hay như nhận định của các sử quan triều Nguyễn là “họ sốt sắng việc công”, hễ thấy việc nghĩa, việc phải thì làm.

     B- 
VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ VĂN NGHỆ DÂN GIAN THĂNG BÌNH
     Do điều kiện địa lý đặc thù, văn hóa Thăng Bình hội tụ gần như đầy đủ ba yếu tố “rừng, đồng bằng và biển” trong đó, trước hết  văn hóa  Thăng Bình đậm tính chất vùng biển.Thăng Bình là địa bàn ghi đậm dấu ấn văn hóa thời mở đất của thế hệ cha ông người Việt ở Quảng Nam.Những sinh hoạt lễ hội như lễ hội Bà Chợ Được, lễ hội Cầu Ngư, lễ cầu an (Xuân kỳ, Thu tế)...mang tính chất tích hợp văn hóa Đại Việt và văn hóa Chăm trên miền đất mới.Truyền thuyết về Bà Chợ Được xét thực chất chính là truyền thuyết về Bà Phường Chào vùng Đại Lộc bởi theo truyền thuyết dân gian ở vùng Đại Lộc thì “sau khi quy tiên vào năm 18 tuổi (Thần phả ghi rõ là ngày 19 năm Đinh Sửu, Gia Long thứ 16 (1818), Bà thường biểu hiện phá phách nhiều nơi, kể cả ra tung hoành ở kinh đô Huế, được dân chúng và quan lại lập lăng thờ ở Phường Chào, nên thường gọi là Bà Phường Chào, từ đó mới thôi phá phách.Như vậy giữa truyền thuyết dân gian và “Thần phả” gần như có sự khác biệt về tính cách của Bà.Điều đó cũng dễ hiểu, vì trong Thần phả không ai lại đi ghi những “nết xấu” của Thần.Nhưng xét theo lẽ thường, thì truyền thuyết dân gian không phải không có lý, vì có thể khi mới quy tiên Bà muốn thị oai với dân chúng, nhưng sau đó khi đã được tôn thờ, thì mới ra sức làm việc nhân đức, cứu người.Điều này cũng thích ứng với câu ca “Bô Bô nói với Phường Chào-Xem tôi với chị bên nào hiền hơn”(20 ). Truyền thuyết về cá Ông rõ ràng là ảnh hưởng truyền thuyết về “Thần sóng biển” của người Chăm. “Sự tích tháp Chàm” nói về sự ‘chiếm đất” một cách hòa bình, ca ngợi tài trí, tinh thần sáng tạo của cha ông thời Nam tiến. “Sự tích chim tu hú và cá chuồn”  lý giải những vấn đề nhân sinh, văn hóa biển với văn hóa rừng qua hiện hữu trong thực tại của các con vật, ứng với câu ca dao vùng biển “rồi mùa tu hú kêu thanh-cá chuồn đã vãn mà anh chưa về” là lời than thở của cô  gái vùng biển mong ngóng người yêu. “Sự tích con tằm” nói về nghề nuôi tằm trên vùng đất mới bờ nam sông Thu Bồn qua đó gởi gắm bài học về “chữ tín” và đạo đức phải biết ăn ở thủy chung...
     Tục ngữ người Việt vùng Thăng Bình là kho tri thức về kinh nghiệm của người nông dân phải lao nhọc để cấy trồng, chăn nuôi, đánh bắt cá tôm, đồng thời cũng gởi gắm nhiều ‘thông báo” về kinh nghiệm nhân sinh, về “đối nhân xử thế” sao cho vẹn toàn về nhân cách và đạo đức làm người’:
          - Thiếu tháng giêng mất khoai, thiếu tháng hai mất đậu
          - Cấy chay hơn cày gãi
          - Thừa mạ thì bán, chớ cấy ráng ăn rơm
          - Lúa phân hoai, khoai phân tươi
          - Nhất đậu phụng rang, nhì khoai lang bùi
          - Sáng ăn khoai đi ngủ, tối ăn củ đi nằm
          - Thuận buồm xuôi gió thì đi
     Mặt nặng như chì ở lại nuôi con
          - Mua tôm mua cá đi chợ Trung Phường
     Còn mua mía mua đường thì về Chợ Được
          - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
     Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mình trồng
          - Mua cá thì phải xem mang
     Mua thịt thì phải xem gan kẻo lầm
     Câu đố ở Thăng Bình vừa ‘phồn thực” vừa mang tính “triết luận” cao, ấn sau những câu chữ ấy là cái cười lạc quan, ý nhị, trào tiếu của người bình dân.Ví như:
          - Đầu nhọn đầu tà
     Đút ông ông háy, đút bà bà ưng
                               (Đôi bông tai)
     Đút vô rồi lại đút ra
     Vắng cửa vắng nhà thì lại đút vô
                               (Ổ khóa)
     Câu đố có khi vận dụng kiểu nói lái Quảng Nam “...có chị Hồng Mai - một người mà có tới hai cái mồng” thật tinh nghịch và đầy khát khao phồn thực  bởi trong tâm thức dân gian vốn thường xuyên mong cầu “nhân khang vật thịnh”.
     Ca dao Thăng Bình thật phong phú đề tài, giàu có về tính thẩm mỹ ngôn từ, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người lao động về đất đai, con người, xã hội.Với quê hương họ luôn nồng nàn một tình yêu quê kiễng dẫu có khó nhọc trong cuộc mưu sinh, có trắc trở trong duyên phận lứa đôi, có kho nghèo về vật chất:
          - Ai về Chợ Được sông dài
     Tôm nò, thổ sản, chươm gai cũng nghề
          - Củ khoai Trà Đõa cái ruột trắng xóa
     Thuốc lá Bến Đền ngát tỏa mùi thơm
     Trời cho em làm được bát cơm
     Củ khoai em bẻ nửa, thuốc lá Bến Đền em chia đôi
          - Đêm trường đò ngược Trường Giang
     Mái chèo đẩy nước, đầy khoang tiếng hò
          - Bình Đào lắm cát nhiều khoai
     Lắm con gái đẹp, nhiều trai phải lòng
     Bình Đào có giếng có sông
     Có trăm thứ cực mà không có tiền
     Ca dao về tình yêu lứa đôi của các chàng trai, cô gái miền biển hay miền đồi cũng đều chứa chan cảm xúc yêu thương, khát khao hạnh phúc, niềm tin sắt son vào lòng chung thủy, nghĩa đá vàng.Với cô gái vùng Đông thì:
          - Thương anh ruột sát liền da
     Mà anh không biết ,tưởng là đói cơm
     Với chàng trai vùng Tây thì:
          - Hoa thơm xuống đất cũng thơm
     Em giòn áo rách, đói cơm cũng giòn
     Dân ca vùng đất này cũng hết sức giàu tính thẩm mỹ về mặt ca từ và phong phú các làn điệu , nhất là việc thể hiện trí thông minh, tâm hồn nghệ sỹ qua hát hò khoan, nhất là trong hát hò khoan đối đáp.
     Tính hiện thực, ý nghĩa nhân sinh, giá trị đấu tranh của người Thăng Bình thể hiện đậm nét qua các thể Vè như vè về các thói hư tật xấu của những người  “siêng ăn nhác làm”, những hiện tượng xã hội “chướng tai gai mắt”,  vè về cuộc kháng thuế cự sưu thời Pháp thuộc, về cuộc đấu tranh Hà Lam - Chợ Được...
     Đặc biệt, văn nghệ dân gian Thăng Bình-có thể nói-nhiều điểm độc đáo so với các nơi trong tỉnh là có một kho truyện cười có nét đặc sắc riêng, gắn với đời sống nông thôn, phản ánh cái cười về những tình trạng nhân thế đầy bất cập và đồng thời cũng nhiều điều tốt đẹp của nông thôn đất Quảng từ xưa đến nay.Độc đáo nhất là Thăng Bình có những “nhân vật văn hóa dân gian” như bác Cửu Hoằng, ông Năm Mực với bao giai thoại vui nhộn, đầy ý nghĩa nhân sinh, xã hội.
                                                                          
        Thạc sĩ  Phùng Tấn Đông
Ủy viên BCH Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam
    
     Chú thích:
(1)- Nguyễn Siêu-Phương Đình dư địa chí (Ngô Mạnh Nghinh dịch)-NXB Tự Do, Sài Gòn 1959
(2)-Nguyễn Văn Xuân-Quảng Nam-Đà Nẵng 1307-1996- (sách Nguyễn Văn Xuân, sức sống văn hóa xứ Quảng (Nguyễn Cửu Loan, Hồ Sĩ Bình biên soạn)-NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội 2011 tr.347
(3) Đào Duy Anh-Lịch sử Việt Nam-NXB Văn Học, Hà Nội 2014 tr.295-296
(4)-Lê Bá Thảo-Thiên nhiên Việt Nam-NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội 1990 tr.237
(5) Phan Huy Chú-Lịch triều hiến chương loại chí (Tố Nguyên Nguyễn Thọ Dực dịch)-Phủ Quốc vụ khanh phụ trách văn hóa xb, Sài Gòn 1970 tr.292
(6) Lê Qúy Đôn-Phủ Biên tạp lục (tập III) NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1997 tr.902
(7) Lê Qúy Đôn- Phủ Biên tạp lục-sđd-tr.337
(8) Lê Đình Phụng-Tìm hiểu lịch sử kiến trúc Tháp ChămPa-NXB Văn Hóa-Thông Tin, Hà Nội 2005 tr.82
(9) Nguyễn Duy Hinh-Tháp cổ Việt Nam-NXB Văn Hóa-Thông Tin, Hà Nội 2013 tr.121
(10) Nguyễn Duy Hinh-Sđd-tr.122
(11) Dương Văn Út- Chuyện về nữ thần Pô Inư Nagar và Bà Chợ Được-Tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật (Bộ VH-TT&DL) số 344 tháng 2/2013
(12) Sở Văn Hóa-Thể Thao tỉnh Quảng Nam- Phong tục, tập quán. Lễ hội Quảng Nam-xb 9/1994 tr.282
(13) Phạm Hồng Việt (viết chung)-Một số nhân vật lịch sử Điện Bàn trước 1945-UBND Huyện Điện Bàn xb 2012 tr.32
(14) Cao Xuân Dục- Quốc triều hương khoa lục (Nguyễn Thúy Nga dịch) –NXB TP Hồ Chí Minh 1993
(15)Tập san nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành QN-ĐN (Sở VH và TT QN-ĐN) Số 3/1984 tr.16
(16) Lịch sử Đảng Bộ huyện Thăng Bình-NXB Chính Trị Quốc Gia. Hà Nội 2000 tr.21
(17) Quốc Sử quán Triều Nguyễn-Đại Nam liệt truyện (Tập 4)-NXB Thuận Hóa, Huế 1997, tr.276
(18) Quốc Sử quán Triều Nguyễn- Đại Nam thực lục (Tập 9) NXB Giáo Dục, Hà Nội 2007-tr.359, 364,372,366,444
(19) Nguyên Ngọc (chủ biên)- Tìm hiểu con người xứ Quảng-Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Quảng Nam xb 2004 tr.121
(20))-Nguyễn Văn Bổn (biên soạn)-Văn học dân gian Quảng Nam (miền biển)-Sở Văn hóa-Thông tin Quảng Nam xb 2001, tr.123-125
P.T.Đ

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00005796457

Hôm nay: 796
Hôm qua: 2341
Tháng này: 59542
Tháng trước: 85535
Số người đang Online: 71