Đẩy mạnh các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa" hướng tới kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2021)!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Văn học - Nghệ thuật

Thức cùng bóng quê

Tác giả: Mộc Nhân Ngày đăng: 13:42 | 28/06/21 Lượt xem: 196

Tôi không cho rằng mình đã đọc và hiểu hết thơ Nguyễn Tấn Thái. Tôi cũng không nghĩ rằng với một bài viết ngắn có thể đem đến cho bạn điều gì về thế giới thơ đang “lên da non” trong thơ anh dù anh đã viết nhiều, viết sớm, viết như điên cuồng mộng mị khi hít thở sinh quyển thi ca trong nội giới quê xứ của mình.

     Tuy nhiên, tôi chắc rằng trong thơ anh, bên cạnh trái tim nhân tình, đôi chân rong ruổi, đôi tay ký tặng bản thơ cho bạn đọc và khuôn mặt nghiêm cẩn say sưa khi nói về thơ là hình bóng quê nhà đau đáu, ẩn sâu trong từng con chữ.
     Tôi muốn dùng từ “nghiêm cẩn” khi nhiều lần chứng kiến anh đề tặng thơ của mình cho bạn bè. Thường thì tác giả chỉ đề tặng ngắn gọn và ký tên. Còn anh thì làm điều ấy rất trịnh trọng: ngồi vào bàn, lấy ra hộp bút gồm đủ màu, đủ loại, rồi chọn lấy một cây ưng ý nhất để viết những dòng chữ thân thương, nắn nót cùng con chữ đẹp, với các nét và màu mực khác nhau, sau đó mới tặng bạn bè.
     Chỉ cái việc ấy không thôi đã khiến chúng ta phải dõi theo anh, đón nhận anh một cách trân trọng.
     Có lẽ với anh, thơ là thứ tôn giáo mà anh gọi là “Tôn giáo thi nhân”. Trong bài thơ cùng tên, anh dùng hàng loạt từ thuộc trường từ vựng cảm xúc như: ngưỡng phục - chạm - dâng - rải phép nhiệm màu - lưu dấu - rối bời… để bày tỏ niềm yêu say cùng con chữ của mình:
                                     Xin ngưỡng phục trước đền thơ
                                     Ngọc cổ điển vẫn hẹn giờ hiển linh
                                     Ngút thơm biêng biếc bình minh
                                     Thơ kiều diễm chạm khối tình đài sen
                                                                                     (Tôn giáo thi nhân)
     Trong thế giới “Tôn giáo thi nhân” ấy, anh thao thức với nhiều nỗi niềm: mộng và đời, ngẫu nhiên và bày biện; hiện thực và kí ức… Nhưng tôi luôn thấy anh thức cùng hình bóng quê nhà. Có lẽ đó là những xúc cảm trong các tập thơ anh viết mà tôi được đọc: “Bóng thức” (2010), “Trăng và Nguyệt” (2014 -chung với Trần Anh Dũng).
***
     Quê nhà luôn là biểu hiện tồn tại trong khung thời gian gắn với dấu ấn con người, số phận, trạng huống mà anh mang theo.
     Chính vì trong anh luôn có “bóng thức” quê nhà nên tôi nhận ra các địa danh xuất hiện khá dày và đậm trong thơ anh.
     Những cái tên thân quen như Tân An – Hiệp Đức hiện lên trong trang thơ anh như những phối cảnh đẹp mà giản dị; trong không gian làng quê cổ điển có tiếng ve, tiếng chuông chùa làm nao lòng gã lữ hành:
                                     “Hồng mai nắng dẫn núi về hồn lạ
                                     Biếc mây trời nhả tơ lụa triền cây
                                     Lữ hành phố Tân An chiều rây gió
                                     Ngợp ve ngân như màu rượu chập chờn”
                                                                                        (Hiệp Đức hạ ca)
     Với mấy mươi bài thơ trong hai tập thơ đã nêu, chúng ta có thể nhận ra bao nhiêu miền quê xứ Quảng, dòng sông, phố thị, từ đồng bằng đến trung du, miền núi. Hà Lam, Dốc Sỏi, Trường Giang, Chợ Được, Trà My, Tam Kỳ, Tiên Phước…
     Tất cả được anh tái hiện một cách chân thực, sinh động và ăm ắp cõi lòng khi đi qua Dốc Sỏi:
                                     “Ngày về Dốc Sỏi chiều đau
                                     lịm thương suối nhỏ, giấu màu hoa tang”
                                                                                 (Tình tự đêm)
     Con sông chảy qua làng quê nơi anh sinh sống hiện lên mơ màng, ấm áp:
                                     “Trường Giang nước xanh lờ lợ
                                     Vỗ miên man bờ ký ức xa mờ
                                     Nếm rượu nồng lửa hồng Chợ Được
                                     Thăng Bình nắng mướt mật ong”
                                                                          (Mật ngọc Thăng Bình)
     Trong dòng sông thơ quê xứ ấy, chúng ta có thể nhận ra thực và mộng, đất và người hòa lẫn vào nhau:
                                     “Vàng thu sông vẫn nồng nàn
                                     Vẫn duyên dáng phả sắc hồng trang thơ
                                     Em và sông lại mộng mơ
                                    Trăng sao tình tứ bên bờ Trường Giang”
                                                                                     (Trường Giang)
     Đôi khi là dòng phức cảm khi mà nỗi buồn đau hay niềm vui đều tao ngộ trong những câu thơ lúc thì chon von xứ núi Trà My:
                                    “Tôi châm nắng núi đồilên hơi ấm
                                    Em Trà My thắp lửa quế hong hồn
                                    Niềm hãi sợ sót Mùa Xuân ít ỏi
                                    Xua cay đau gieo cấy vụ ngọt lành”
                                                                                  (Trà My ca)
     Lúc thì mát rượi gió nồm phố thị:
                                    “Tôi trồng tỉa gió nội đồng
                                    Ngọn nồm thổi mát phố - sông Tam Kỳ”
                                                                                     (Tam Kỳ phố)
     Lúc thì ưu tư chốn cũ:
                                   “Lỡ một chiều, Chợ Cũ, khách say
                                   Thả bước nhớ về Thuận An vờn gió
                                   Miền yêu dấu, người em thương nhỏ
                                   Đêm liêu trai dậy sóng men tình”
                                                                              (Miền nhớ Thuận An)
     Bạn đọc sẽ cảm thấy bình yên khi cùng anh thức với hình bóng quê hương bên cồn cát, sóng biển mang nỗi lòng kẻ đi xa luôn hướng về cố xứ:
                                   “Bình minh lên da non
                                   cát soãi mình sóng sượt…
                                   giấc mơ ngày nhặt được
                                   một bình yên chốn nhà”.
                                                                   (Bóng thức)
***
     Thơ của Nguyễn Tấn Thái mang theo chiều sâu bản thể của kẻ lữ hành, rong chơi đây đó trên quê hương mình, dù rất nhọc nhằn, ưu tư vận số nhưng ít có sự xung đột giữa quá khứ và hiện tại bởi trong anh là nỗ lực yêu thương với đời sống của mình.
                                  “Người hành hương vượt bụi trần mệt lả
                                  Chợt hồi sinh nồng cháy vũ điệu Chăm”
                                                                                (Vũ khúc Chăm)
     Anh tập hợp những kỷ niệm buồn vui của chính mình, lưu giữ tất cả trong những dấu mốc thời gian, không gian. Nơi lời thơ luôn gắn với độc thoại, đồng thời nó còn là nét khắc ghi trong tâm thức những giấc mơ tồn tại, ám ảnh, chuyển dịch, rượt đuổi:
                                   “Điên rồ rượt đuổi giấc mơ
                                   Cằn cỗi nắng, chợt… trống huơ phận mình”
                                                                                              (Chắp vá)
     hoặc nuôi dưỡng:
                                   “Ôm chạm bóng ngược xuôi miền biển lặng
                                   Dưỡng giấc mơ nuôi hoài vọng con người”
                                                                                       (Chạm bóng giấc mơ)
     và luôn mong mỏi quay về:
                                   “Con sẽ về, con sẽ lại về thăm
                                   Con sông nhỏ cha đã từng soi cá”
                                                                                      (Lời hẹn mùa xuân)
     Tuy nhiên đôi khi, chúng ta nhận ra những chai sạn đùn lên từ nghịch cảnh nào đó trong cuộc đời khiến câu thơ của anh nổi nênh giữa ký ức của mình:
                                    “Bao lần đào xới hư không
                                    Cơ duyên tắm gội dòng sông hai lần”
                                                                                 (Ước nguyện dòng sông)
***
     Đọc Nguyễn Tấn Thái, bạn và tôi nhận ra thơ anh trầm lặng, bình dị, nhưng có tính cô đọng hàm súc rất cao, bao quát cả hành trình sáng tác.
     Dường như điều này trái ngược với vẻ ngoài hăm hở, say sưa, lợi khẩu khi anh nhập cuộc chuyện thơ - khiến những lúc như thế, nhiều người nghĩ anh bất thường, dị biệt…
     Đó là thuộc tính “điên” của người làm thơ; tất nhiên cách thể hiện mỗi người mỗi khác. Nói cho cùng, trong mỗi người thơ, thiếu điều ấy khó nhận ra chất thơ cùng những cựa quậy để cõi hồn giãy nảy trên trang viết.
     Giữa bao xu hướng cách tân, lạ hóa thơ ca đương đại, Nguyễn Tấn Thái vẫn có giọng điệu thơ riêng mình. Anh dè dặt với những hình thức mới; không cầu kỳ với nhiều tầng bậc ẩn dụ; không làm khó bạn đọc với những huyễn hoặc… Tuy nhiên, câu chữ và ý tưởng vẫn có những phá cách sáng tạo trong các bài “Hoa nắng trường quê”, “Tượng trưng”… và nhiều bài khác khiến chúng ta hiểu được nỗi trăn trở, tìm tòi của nhà thơ trong bối cảnh đổi mới nghệ thuật sáng tác của mình.
     Thơ anh lay thức chúng ta về bóng dáng quê nhà mà ai cũng mang theo nhưng đôi khi chúng ta bỏ rơi đâu đó. Nó khiến chúng ta hồi đáp, truy vấn, khát khao một nơi chốn nơi chúng ta đã được nuôi nấng nhưng rồi lớn lên, ta lại ra đi, lại đau đáu quay về…
     Đến đây tôi chợt nhớ mấy câu thơ cuối trong bài thơ “Dưới những lớp ngôn từ” (The Words Under The Words) của nhà thơ đương đại người Mỹ Naomi Shihag Nye mà tôi đọc và dịch gần đây:
“Hãy hồi đáp, nếu bạn nghe được bên dưới những lớp ngôn từ -
nếu không, đó chỉ là một thế giới với nhiều góc cạnh thô ráp,
khó vượt qua, và chúng ta chỉ còn lại những điều vô nghĩa”.
***
     Phải chăng Nguyễn Tấn Thái đang gợi cho chúng ta những điều như thế.
ĐẠI LỘC, tháng 5.2021
M.N

Các tin khác:

CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ








Thông báo

Thống kê truy cập

000011724926

Hôm nay: 6124
Hôm qua: 5768
Tháng này: 152143
Tháng trước: 236174
Năm này: 1302179
Năm trước: 2235546