NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Giới thiệu Thăng Bình

Lễ hội cầu ngư - Hát bả trạo

Người đăng: Ngọc Đào Ngày đăng: 9:58 | 17/09/15 Lượt xem: 3758

     Tín ngưỡng thờ cá Ông (cá voi)
     Lễ Hội Cầu Ngư xuất phát từ tục thờ cúng cá Ông (cá voi) của các cư dân người Việt từ Quảng Bình vào đến các tỉnh cực Nam của đất nước. Cá Ông là vật linh của cư dân miền biển. Cá Ông là một loại cá lớn có vú (có con dài hơn 30 m, nặng hàng chục tấn), có sức mạnh phi thường. Tục thờ cúng cá Ông là ảnh hưởng rõ nét của văn hóa Chăm của người Việt trên vùng đất mới.
     Thờ cá Ông vốn là tín ngưỡng của cư dân Champa cổ. Theo truyền thuyết của người Chăm, cá voi là hóa thân của vị thần Sóng biển tên là Cha Aih Va. Thời trẻ Cha Aih Va được cha mẹ cho theo thầy học phép thuật. Sau một thời gian dài tu luyện trên núi, ngài trở thành người có phép thuật cao cường. Vì nóng lòng trở về xứ sở, nhưng thầy của ngài cho rằng chưa đủ thời gian tu luyện, nên ngài đã cãi lời thầy, tự hóa thành cá voi, lần theo sông lớn tìm ra biển. Qua bao phen hoạn nạn như bị thầy phạt tội, bị các loài thủy tộc hành hình, bị biến thành thiên nga, Cha Aih Va trở lại hình dáng con người, thượng đế đã cho ngài biến thành vị thần cứu nạn, danh xưng là Pô Riak - tức thần Sóng biển.
     Truyền thuyết của cư dân Quảng Nam thì kể rằng cá Ông với sự trợ giúp của thuộc hạ là Tôm và Mực, đã kịch chiến với những loại cá ăn thịt người hung dữ là cá Xà, cá Mập. Tuy thắng trận nhưng bị nhiều thương tích nên Ông lụy (chết)... Lại cũng có truyền thuyết cho rằng, cá Ông vốn là một trong muôn mảnh vải từ chiếc áo cà sa của Phật Bà Quan Âm xé ra. Mụn vải này được Phật Bà phủ kín bộ xương cá voi, rồi phả vào đấy pháp thuật cao cường của lòng từ bi, sự mẫn tuệ và dũng cảm, nhờ thế cá Ông với bộ xương đặc biệt của mình đã có phép “thâu đường”(rút ngắn khoảng cách) để làm nhiệm vụ “cứu hộ độ sinh” (cứu vớt, hộ tống sinh linh qua nguy khốn). Theo các ngư dân kể rằng nhiều lần thuyền gặp gió bão ngoài biển khơi, thường hay có cá Ông đến cứu. Cá áp lưng vào mạn thuyền làm cho thuyền khỏi bị sóng gió lật đổ và đưa thuyền ra khỏi nơi nguy hiểm. Từ sự cứu nạn lớn lao của cá Ông, nên loài cá này trở thành vị Thần ngư Nam Hải, Nhân Ngư, Đức Ngư - có địa phương còn gọi là Quan Âm Nam Hải hoặc Nam Hải Ngọc Lân. Sự tôn kính của cư dân miền biển dành cho cá Ông không chỉ ở trong tiềm thức mà còn bằng những  thực hành văn hóa trong thực tế. Như trường hợp gặp cá Ông lụy (Cá Ông chết trôi dạt xác vào bờ) thì phải lập tức tập trung dân làng lại để tổ chức trọng thể lễ an táng cho cá Ông, hoặc khi đang đánh lưới, thấy trong lưới có cá Ông dù lớn hay nhỏ thì cũng phải lập tức mở toang lưới cho cá Ông thoát ra. Người đi biển gặp Ông lụy thì tìm mọi cách dìu xác cá Ông vào bờ, coi đó là dịp may mắn được Ông chọn - Ông xem như "trưởng nam” - thay mặt dân làng bịt khăn đổ, chịu tang 100 ngày. Trước năm 1945, chính quyền phong kiến “quy định làng nào khi gặp cá Ông chết thì xã trưởng phải trình lên phủ, huyện để quan cho người về khám định, cấp tiền tuất, hương đèn, vải đỏ quấn đủ 7 vòng và cho khâm liệm, cấp đất xây lăng cùng ruộng hương hỏa để thờ cúng. Nghi thức tang lễ hoàn toàn dựa vào “Thọ Mai gia lễ” có giản lược bớt một số chi tiết so với lễ tang người”.(1)
     Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức nhằm bày tỏ lòng thành kính của ngư dân với Thần Nam Hải, cầu mong sự che chở, một mùa bội thu và xua đi mọi điều xấu.
    Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức tại các xã miền biển Thăng Bình mỗi xã mỗi khác. Xã Bình Hải, lễ hội tổ chức vào ngày 15/3 Âm lịch (ngày 20/12 Âm lịch là lễ Tạ mùa). Tại xã Bình Dương lễ hội tổ chức vào ngày 19/2 Âm lịch (ngày 16/8 Âm lịch là lễ Thu).
     Lễ Cầu Ngư thường được tổ chức ở ngay cửa biển, bên bãi biển hoặc trong lăng Ông. Trước khi tiến hành lễ hội, các ngư dân trong làng, xóm phải họp lại để bầu ra một ban tế lễ, gồm các vị cao niên, đức độ trong làng, không vướng tang sự trong năm.Ban tế lễ gồm 2 vị chánh bái, 2 vị xướng (Đông xướng, Tây xướng), 2 vị đọc văn tế, 2 vị đánh chinh cổ (chiêng, trống). 1 đội nhạc lễ và một đội học trò lễ (gồm 4 người) và một số vị tham gia trang hoàng, lo lễ phẩm.
     Trang trí rạp cúng thì chung quanh rạp có cắm cờ gồm cờ vuông, cờ đuôi nheo và cờ cúng, Ban thờ hành lễ có chánh ban và tả, hữu ban. Nghi thức đầu tiên thường là lễ Nghinh Thần - đây là một nghi thức quan trọng thể hiện tính cộng đồng cao. Thường có đoàn rước gồm có chánh bái, 4-5 người cầm cờ, 4 người khiêng bàn hương án, các người khiêng và đánh chiêng, trống, ngoài ra còn nhiều vị cao niên trong lễ phục theo đoàn rước. Lễ vật cúng gồm có một bát nhang, bình bông, nải chuối và vàng bạc giấy tiền. Đoàn rước khởi hành từ lăng hay rạp rồi đi quanh làng và trở về lăng hay rạp. Mục đích của Nghinh Thần là rước Thần Nam Hải cũng như di thỉnh cô bác, chư vị tiền hiền vãn ngự ở các nơi trong làng cùng về lăng hay rạp cúng cùng phụng hưởng (nếu trời yên biển lặng thì có thể cúng trên thuyền, thuyền đậu dưới biển).
     Sau khi thỉnh thần trở về thì thỉnh thần vào lăng hay rạp cúng, tối hôm ấy cúng lễ túc yết. Đây là lễ cáo giỗ, báo cáo với thần những việc sẽ làm trong dịp lễ đồng thời cầu xin Thần Nam Hải báo ứng cho vạn chài điềm lành dữ trong năm. Lễ được cử hành trang nghiêm, dâng đủ ba tuần rượu.
     Từ rạng sáng ngày thứ hai tổ chức lễ tế chính thức. Trước đó phải tiến hành lễ tế âm linh tại lăng hay rạp. Đây là lễ cúng các oan hồn đã khuất, lễ vật gồm: Bát cháo thánh (cháo trắng), khoai lang luộc, đường cục (đường bát cắt cục), bát gạo muối, trầu cau, rượu cùng hương đèn và đồ vàng mã. Bắt đầu vị chánh bái gõ ba hồi mõ sau đó dâng tuần rượu và đọc văn tế. Nội dung văn tế âm dương thể hiện sự thương yêu cho những kẻ bất hạnh, khốn khổ đã khuất. Tế xong vật phẩm được tung vãi khắp nơi để thí thực cô hồn.
     Sau lễ âm linh là lễ tế chính - đây là chính lễ của hội Cầu Ngư. Lễ vật cúng gồm thịt heo luộc (hoặc heo quay), hoa quả, giấy tiền, vàng bạc...Phần lễ đủ nghi thức lễ cúng (gồm sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ), trong đó có đọc văn tế ca ngợi công đức của Thần Nam Hải, cầu xin Thần ban cho một vụ mùa bội thu.
     Hình thức diễn xướng vừa mang tính nghi lễ vừa mang tính hội hè của lễ hội Cầu Ngư đó là hát bả trạo. Đội hình bả trạo từ 12 đến 18 người (thường là 18 người, tối đa 20 người), bao gồm các con trạo (tay chèo) dưới sự chỉ huy của các ông tổng gồm: tổng mũi, tổng thương, tổng lái và tổng khậu, tất cả được xếp theo hình một chiếc thuyền rồng. Đây là một hình thức diễn xướng tập thể trên cạn. Màn hát múa được trình diễn bởi các ông tổng. Tổng mũi (còn gọi là tổng tiền). tổng khoang (còn gọi là tổng thương), tổng khậu (còn gọi là tổng khẩu - lo việc nấu nướng) và người chỉ huy con thuyền là tổng lái. Về trang phục, tổng lái trong trang phục cổ truyền - áo dài đen, quần dài trắng, cầm chèo dài để lái độ 2 m, tổng mũi trang phục như một vị tướng trong hát bội cầm cặp sênh điều khiển, tổng khoang mặc áo ba màu hoặc áo có hình lát chả, quần ngắn, tay cầm gàu tát nước, tổng khẩu khăn quàng vắt vai mặc đồ ngư dân hàng ngày, tay cầm cần câu cá..Lời hát và động tác múa diễn tả lại quá trình đi biển, từ lúc thuyền ra khơi cho đến khi về bến, trong hành trình đó có lúc phải vất vả chống chọi giông tố, sóng gió mịt mùng, thuyền chòng chành chực chìm đổ, có lúc trời quang biển lặng để thả lưới, buông câu. Nội dung xuyên suốt là tạ ơn và ca ngợi công đức Ông Nam Hải, xin Thần ban cho vạn chài sự bình yên, cuộc sống no ấm, hạnh phúc.
     Trong tế lễ cá Ông, thường sau khi chánh tế kết thúc, là đến chương trình của đội chèo bả trạo.Ông chánh tế đứng niệm hương xin phép Thần cho đội bả trạo biểu diễn. Trống chiêng đánh 3 hồi 9 tiếng. Dứt tiếng trống, chiêng, đội chèo bắt đầu hành lễ và tiến ra sân diễn. Đám bạn chèo bắt đầu đi hàng một, dẫn đầu là tổng mũi, đến tổng khoang, tổng khậu, đám bạn chèo và tổng lái.Chèo được cầm dựng đứng bên tay phải, mũi chèo hướng lê trời. Đến chỗ trình diễn, cả đoàn đi theo hình xoáy ốc, rồi lộn ngược vòng, sau đó xếp thành hai vòng tròn, vòng trong là 4 tổng, vòng ngoài là đám bạn chèo. Tiếp đó đám bạn chèo lại mở vòng, 4 tổng lại dẫn đám bạn chèo lộn ra thành hàng một. Dừng lại một lát, tổng mũi gõ hai tiếng sênh, cả đoàn tách thành hai hàng theo số chẵn lẻ (các bạn chèo mang số lẻ 1, 3, 5...tách thành một hàng; các bạn chèo mang số chẵn 2,4,6... tách thành một hàng). Đứng đầu, giữa hai hàng bạn chèo là tổng mũi, ở giữ là tổng khoan, tổng khậu, đằng sau là tổng lái. Phần điều khiển múa hát bả trạo do tổng mũi đảm nhiệm. Trong lúc trình diễn, tổng mũi và các tổng nhiều lúc vừa chèo vừa hát, than, ngâm thơ, diễn trò... Đám bạn chèo cứ chèo theo động tác đã cách điệu một cách rập ràng và hò xô theo điệu nhạc hò các tổng xướng. Tổng khoang có màn diễn tát nước, tổng khậu có màn diễn câu cá, hát vè đố cá.
     Múa bả trạo, các bên xướng xô, chèo chống nhịp nhàng. “Con thuyền trong màn diễn xướng như một con thuyền tế độ, đưa tâm thức con người vượt “bờ mê” sang ‘bến giác”, siêu việt hóa mặt tâm linh để con người đồng nhất hóa với thánh thần. Thật hữu lý khi GS Trần Quốc Vượng nhận định hát múa bả trạo có tính chất như một đàn tràng Mạn đà la (Man da la) của nghi thức lễ cúng Phật giáo. Bài cúng chất chứa tinh thần nhân đạo, cao cả sâu rộng đến cả “thập loại chúng sinh”:
                                            “Những người nghĩa khí tài ba
                                            Gặp cơn nước loạn đến ra liều mình
                                            Những người thuyền bá linh đinh
                                            Gặp cơn sóng gió hải kình rước thây...”
     ...Hát múa bả trạo về mặt âm nhạc, là một tổng hợp của nhiều loại hình ca hát. Có lối tán tụng của các sư sãi, có nói lối (kẻ) của hát bội, hô bài chòi, hò đưa linh, hò khoan, hò đua thuyền, ngâm thơ điệu Huế của hát văn”.(2)
     Phần hội trong lễ hội cầu ngư còn có nhiều hình thức vui chơi, giải trí như hội đua ghe , thi lắc thúng chai, kéo co và một số trò chơi dân gian miền biển khác.
Ths. Phùng Tấn Đông

 

Chú thích:
(1)  Thạch Phương, Lê Trung Vũ-60 lễ hội  truyền thống Việt Nam-NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1995, tr.308
(2) Phùng Tấn Đông-Hát bả trạo cầu ngư, một nhu cầu văn hóa tâm linh-Tạp chí Văn hóa Quảng Nam, số 8, tháng 5/1998

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006098078

Hôm nay: 2903
Hôm qua: 4288
Tháng này: 56686
Tháng trước: 113565
Số người đang Online: 38