NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM MUÔN NĂM!
Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Giới thiệu Thăng Bình

Dân ca bài chòi

Người đăng: Ngọc Đào Ngày đăng: 11:11 | 21/09/15 Lượt xem: 3220

     Dân ca bài chòi bắt nguồn từ một trò chơi dân gian gọi là đánh “bài tới”. Bộ bài này gồm hai nửa giống nhau, mỗi nửa có 30 quân bài được đặt tên là: Nhứt trò, Bánh hai, Nhì nghèo, Nhì bí, Bánh ba, Ba gà, Tam quăn, Tứ cẳng, Tứ gióng, Ngủ trưa (trợt), Năm rún, Sáu suốt, Sáu tiền, Lục rế, Bảy liễu, Bảy dày, Bảy sưa, Thất nhọn, Tám nứt, Tám tiền, Bát bồng, Chím rậm, Chín gối,Cửu chùa , Thái tử, Ông ầm, Đỏ mỏ, Nọc thượt, Dái voi, Bạch huê.
     Với không gian nhỏ trong nhà, cuộc chơi sẽ gồm 4 người chia làm 2  nhóm, mỗi nhóm một nửa bộ bài, mỗi người 15 quân bài. Sau quân bài đầu tiên khai cuộc gọi là phi chường(trường), người chơi sẽ tìm quân bài cùng tên kẹp với một quân bài khác đánh ra. Cứ thế, ai đi quân bài cuối cùng trên tay mình trước tiên  thì gọi là “tới”, tức thắng cuộc.
     Cũng với bộ bài này nhưng ở không gian rộng như sân trường, sân nhà thờ tộc họ, người ta tổ chức thành hội Bài chòi mà cách đây không lâu, mỗi dịp tết đến ở làng quê nào của Thăng Bình cũng có. Một nửa bộ bài được dán trên những thẻ tre và bỏ chung vào trong ống thẻ, treo phía sau lưng người hô bài gọi là anh hiệu, nửa còn lại dán trên 10 cây bài chia cho 10 người chơi, mỗi cây có 3 quân bài.  Một hội bài chòi thường chơi trong 8 ván bài để cho nhà cái hưởng hoa hồng 2 ván, thực chất là dùng để bù vào chi phí tổ chức. Mỗi khi rút một quân bài phía sau lưng, anh hiệu liếc qua liền hô một đoạn thơ lục bát hoặc lục bát biến thể, thường gọi là câu thai, có ý nghĩa ẩn dụ chỉ định quân bài đó. Người chơi một tay cầm thẻ, một tay cầm que, hễ  nghe thấy trong cây bài của mình có quân bài vừa hô thì cầm que gõ “cốc cốc” vào cái ống tre trước mặt. Người nhà cái sẽ cắm một cây cờ nhỏ vào ống cho người chơi. Người nào trong ống vửa đủ 3 cây cờ thì liền hô lên “Huợi huợi!” . Cả hội bài chòi đều “huợi” theo, trống chầu sẽ thúc nhịp ba liên hồi. Tiền thưởng mỗi ván bài sẽ được trịnh trọng đặt trên một chiếc đĩa mang đến tận nơi cho người thắng cuộc. Cứ thế, hội bài sẽ chơi ván tiếp theo.
     Tùy theo năng khiếu và chất giọng của anh hiệu, cách hô những câu thai có khi chỉ là đọc diễn ngâm nhưng đúng cách là phải hát lên theo những làn điệu cơ bản như Xuân nữ, Cổ bản, Xàng xê, Hò Quảng.  Nội dung câu thai ứng với một quân bài mỗi nơi mỗi khác tùy theo ý tưởng của các nghệ nhân dân gian sáng tác ra chúng. Trong những hội bài chòi tự phát ở thôn xóm, câu thai thường ngắn gọn chi từ 2 đến 4 câu lục bát. Chẳng hạn những câu sau của ông Chín Ngự (Thủy Ngự, 85 tuổi, thôn Liễu Thạnh, Bình Nguyên):
          - Con rắn không chân đi năm rừng bảy rú
          Con gà không vú nuôi đặng chín mười con                    ( Con Ba gà)
          - Mùa xuân gió dịu mưa dầm
          Bí không đậy nụ để bầm cổ bông                         ( Con Nhì bí)
          - Sáng mai ra gặp đàn ông
          Bốn tao gióng đứt hết mà không đổ đồ                         (Con Tứ gióng)
          - Đến đây ăn gởi nằm nhờ
          Ơn ông chưa trả mà rờ con ông                                     (Con Nọc Thượt)
          - Lâu ngày mới gặp anh đây
          Mời anh ăn miếng trầu này cùng em                    ( Con Đỏ mỏ)
          - Anh say chi say hủy say hoài
          Đã say quá chén còn nài uống thêm
          Say rồi con mắt lim dim
          Đường đi trơn trợt còn tìm thấy chi?                    ( Con Ngủ trợt)
      Còn trong những hội có quy mô lớn hơn do làng, xã đứng ra tổ chức, người ta chọn những câu thai dài hơi và có nội dung mang tính văn học thâm thúy hơn:
          - Lấy chồng từ thuở mười lăm
          Chồng chê em nhỏ đêm nằm làm thinh
          Bây giờ mười tám đẹp xinh
          Em ngủ dưới đất chồng rinh lên giường
          Một rằng thương, hai rằng thương,
          Ba bốn cũng rằng thương
          Huớ anh ơi, thương chi hung rứa!
          Bốn cái cẳng giường gãy một còn ba                             (Con Tứ cẳng)

          - Bớ anh huơi ! Một anh để em ra
          Hai anh cũng để em ra
          Để  em về em buôn em bán
          Em trả nợ bánh tráng, em trả nợ bánh xèo
          Còn đồng nào em trả nợ thịt heo
          Chớ anh đừng cầm em lại mà mang nghèo vì em (Con Nhì nghèo)

          - Đầu năm khấn vái Tổ tiên
          Cầu cho gia đạo bình yên, thuận hòa
          Cầu cho sức khỏe mẹ cha
          Cầu cho thôn xóm, cửa nhà an vui”
          Cầu cho con cái nên người
          Cầu cho khoai, lúa tốt tươi bời bời
          Tân niên cầu một nụ cười
          Làm ăn song suốt bằng mười năm qua                          ( Con Sáu suốt)
      Thậm chí có những nghệ nhân sáng tác hẳn một tiểu phẩm đối đáp giữa các nhân vật:
         - Nữ:
                 Sáng ra đi chợ tất niên
                 Em đây cầm một quan tiền trong tay
                 Sắm mua cũng đã đủ đầy
                 Nào cau nào thuốc, trái cây thịt thà
                 Độc bình mua để cắm hoa
                 Hột dưa bánh mứt, rượu trà giấy bông
                 Tính hoài mà cũng chẳng thông
                 Chẵn ba trăm sáu chục đồng còn dư
         - Nam:
                 Vội chi, em cứ thư thư
                 Anh đây sẽ tính chừ chừ cho em
                 Sáu mươi đồng, tính một tiền
                 Mà ba trăm sáu chục đồng nguyên vẫn còn
                 Vị chi em mới tiêu xong
                 Cho hột dưa bánh mứt, giấy bông rượu trà
                 Trái cây, cau thuốc, thịt thà
                 Độc bình cộng với hương hoa là bốn tiền
                 Mười tiền ăn một quan nguyên
                 Một quan còn bốn tính liền khó chi?                             ( Con Sáu tiền)
      Từ chỗ chỉ là những câu thai trong trò chơi, một bộ phận trong các câu hát bài chòi đã thoát li khỏi những quân bài mà mở rộng ra những vấn đề xã hội. Một số cụ già ở Thăng Bình còn nhớ được một vài bài hát xưa với ngôn ngữ địa phương rất đặc trưng:
         - Vợ chồng Xã Bảy- mụ Đội
         Người hát: Ông Lê Đình Ba
         Xã Bảy:
         Dù cho sả ướp hương xông
         Có thơm cho mấy cũng lấy lộc chồng mà thơm
         Mụ bỏ qua ngày quảy ngày đơm
         Con cá không đánh vảy, con tơm không lột đầu
         Mụ không lo gánh nước tưới trầu
         Hành hẹ mụ bỏ héo, dây bầu mụ bỏ khô
         Ngày hai ba buổi chợ mụ đi mô?
         Để gà bươi trong bếp, con thò lò mũi xanh,
         Qua nghe xưa rày thiên hạ nói tỏi nói hành
         Rằng mụ vợ ông xã Bảy như con tinh trên đầu đèo
         Hèn chi qua nghe hàng xóm đồn reo
         Rằng mụ mà lăn ra chết thì qua mần heo ăn mừng
         Mụ sống chi đây xấu hổ qua chừng
         Chừ ngẫm lại lúc trước qua ưng làm gì
         Phen này ta quyết để mụ đi
         Bay đâu mực giấy lấy thì cho tau.
         Mụ Đội:
         Ông xã- ông muốn để tui ông phải đi mời
         Có người đứng chứng tui thời mới nghe
         Những là vò ảng chum ghè
         Những âu những sạp ngoài hè ông cũng phải chia
         Trên giàn còn thúng mủng nong nia
         Còn hai con heo nái, gà giò kia một bầy
         Ở nhà dưới còn cái cối xay
         Ông thớt trên tui thớt dưới cũng chia ngay cho đồng phần
         Nói rứa chớ tui đây có lấy cũng không cần
         Thà tui về xứ tui làm ăn cấy cày
         Ở với ông tui xấu hổ quá tay
         Mai ông hành mốt ông hẹ  cả ngày lẫn đêm
         Tui đây như thể con chim
          Lẻ đôi lẻ cánh tôi đi tìm cội cây.
         
          - Đối đáp Mẹ- Con – Dâu
          Người hát: Cụ Tám Bông
          Nàng dâu: Làm thân gái nghĩ đà oan ức
          Lấy chồng chi để cực bấy lâu
          Lớn lên đôi tám tuổi đầu
          Lìa cha bỏ mẹ làm dâu nhà người
          Nói ra sợ chị em cười
          Chẳng thà ở đợ còn hơn mười làm dâu
          Sớm chiều quần quật như trâu
          Nghe mắng nghe chửi nghẹn ngào bữa ăn
          Mẹ chồng:   Con tê mi ngồi đó mà cằn nhằn
                              Cơm tau đâu dễ có ăn mi mừng
                              Mi ơi mi dở vô chừng
                              Trăm ban vạn sự mi vá miếng quần cũng không nên
                              Mi giả đò đau bụng mi trùm mền
                              Cơm tau mi cứ ních vô
                              Chẳng thà tau đổ cho chó ăn no giữ nhà.
          Con trai:      Mẹ ơi mẹ đừng nói ác người ta
                              Vợ tôi ăn bánh ăn quà nào đâu
                              Anh em tôi ở góa trọc đầu
                              Làm ra để ruộng để trâu làm gì?
                              Mẹ chừ rày chiết mai chì
                              Biết đừng lấy vợ làm chi cho lụy phiền
          Mẹ chồng:   Thằng kia mi đừng nghe lời con vợ nói khùng nói điên
                              Công tau đặt gánh đặt khiêng
                              Trầu têm cau bửa kim tiền cũng tự tau
                              Cưới con vợ mi về để hắn làm dâu
                              Thân tau đâu phải con hầu vợ mi?
      Trong hai cuộc chiến tranh, rất nhiều vấn đề thời sự đã được dân gian kể lại bằng những bài văn vần rồi hát lên theo các làn điệu dân ca bài chòi:
           - Bài ca Cướp chính quyền
           Người hát: Cụ Nguyễn Hoàng
           Vui thay dân chúng vui thay
            Hết cơn bĩ cực đến ngày thái lai
            Hội này ta chung sức chung tài
            Chung lòng giúp nước ta vịnh bài tùng chinh.
            Cờ đề hai chữ Việt Minh
            Có ngôi sao chín(1) đinh ninh hẳn hòi
            Chính danh cách mạng không sai
            Định ngày tháng bảy mười hai(2) đến kì.
            Hai bên sung sướng ra đi
            Hai bên gươm dáo vậy thì theo sau
            Miệng rao chưn chạy mau mau
            Đến đâu tiến đó, sang giàu cũng ra
            Đồng tâm hiệp lực cùng ta
            Nhớ câu đoàn kết trẻ già rủ nhau
            Truyền ra một tiếng ( thời) đâu đâu
            Trong thành ngoài quận bất câu(3) chỗ nào
            Trước thời đông đủ gươm dao
            Phen này ta quyết nộp vào chiến tranh
            Đánh cho Pháp Nhựt tan tành
            Giang sơn khôi phục lại thành như xưa
            Hết tài nói giỏi nói bưa
            Hết qua chiếm đoạt sớm trưa thị quyền
            Bó tay chịu tội liền liền
            Đều quăng súng ống xuống thuyền cút ngay...
      
             - Thư chiến trường:
             Người hát: Ông Lê Đình Ba
             Có những chuyến đò đi Tam Kì Đà Nẵng
             Có những chuyến đò về thẳng Hội An
             Có ai về bến Bình Giang
             Cho tôi thăm gửi xóm làng mến thương
             Có ai về Bình Khương, Chợ Được
             Về Bình Đào hay ngược Bình Dương
             Gửi người vợ trẻ yêu thương
             Anh thề quyết thắng chiến trường lập công...

CHÚ THÍCH:
(1) Sao chín: Sao vàng
(2) Ngày âm lịch: 12-7- Ất Dậu nhằm ngày 19-8-1945, ngày cách mạng tháng 8 thành công

(3) Bất câu: bất kể

     Sau này, dân ca bài chòi lại tiến thêm một bước nữa với việc xuất hiện những vở diễn mang tính tổng hợp, có nhân vật, có hành động, có âm nhạc, vũ đạo...để trở thành một thể loại âm nhạc sân khấu. Đó là Kịch hát Bài chòi.

(Sưu tầm và biên soạn: Phan Văn Minh)

Các tin khác:

CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ








Thông báo
















Thống kê truy cập

00006098057

Hôm nay: 2882
Hôm qua: 4288
Tháng này: 56665
Tháng trước: 113565
Số người đang Online: 43